Bỏ qua, tới nội dung chính

Doanh nghiệp & Đầu tư· Cập nhật 02/06/2024

Thỏa thuận về việc hạn chế chuyển nhượng cổ phần có trái luật không?

Thỏa thuận hạn chế chuyển nhượng cổ phần khá phổ biến trong công ty cổ phần. Khi nào thỏa thuận này có hiệu lực và khi nào trái luật.

Luật sư Trần Việt Tùng
Tham vấn bởiLuật sư Trần Việt TùngLuật sư điều hành

Trong thực tiễn, các thỏa thuận hạn chế việc chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần thường khá phổ biến và được áp dụng một cách tương đối rộng rãi. Những thỏa thuận này có thể được cơ cấu dưới nhiều hình thức, tùy thuộc vào yêu cầu và nhu cầu của các bên tham gia. Tuy nhiên, việc xem xét liệu các thỏa thuận này có phù hợp với quy định của pháp luật hay không vẫn là một vấn đề gây tranh cãi.

Trong bài viết này, chúng tôi sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về một số hình thức của thỏa thuận hạn chế chuyển nhượng cổ phần và đánh giá về tính hợp lệ của các thỏa thuận này dưới góc độ pháp lý.

Nguyên tắc: cổ phần được tự do chuyển nhượng

Khác với công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần được thiết kế để vốn góp dễ dàng đổi chủ. Điểm d khoản 1 Điều 111 và khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020 cùng khẳng định cổ phần được tự do chuyển nhượng. Luật chỉ cho phép hạn chế trong hai nhóm trường hợp:

  • Hạn chế do luật định, áp dụng dù các bên có thỏa thuận hay không;
  • Hạn chế do Điều lệ công ty quy định, với điều kiện hạn chế đó được ghi rõ trên cổ phiếu của cổ phần tương ứng.

Vì vậy, câu hỏi "thỏa thuận hạn chế chuyển nhượng có trái luật không" thực chất là: hạn chế đó nằm ở đâu, nội dung ra sao và ràng buộc được những ai.

Các trường hợp luật đã hạn chế sẵn

Cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập trong 3 năm đầu

Theo khoản 3 Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2020, trong 3 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông cho cổ đông sáng lập khác. Muốn chuyển cho người không phải cổ đông sáng lập thì phải được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận, và cổ đông định chuyển nhượng không có quyền biểu quyết về việc này.

Hạn chế này không áp dụng với cổ phần cổ đông sáng lập mua thêm sau khi thành lập, và cổ phần đã chuyển cho người không phải cổ đông sáng lập (khoản 4 Điều 120).

Cổ phần ưu đãi biểu quyết

Khoản 3 Điều 116 quy định cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó, trừ khi chuyển nhượng theo bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án hoặc do thừa kế.

Những hình thức thỏa thuận hạn chế thường gặp

Ngoài hạn chế luật định, các cổ đông, nhất là khi có nhà đầu tư mới vào công ty, thường đưa vào thỏa thuận cổ đông hoặc Điều lệ những điều khoản sau:

  • Quyền ưu tiên mua: cổ đông muốn bán phải chào bán cho cổ đông hiện hữu trước, cùng giá và điều kiện, rồi mới được bán cho người ngoài.
  • Thời gian khóa chuyển nhượng: cổ đông cam kết không bán cổ phần trong một thời hạn nhất định, thường gắn với giai đoạn gọi vốn hoặc thực hiện dự án.
  • Chuyển nhượng phải được chấp thuận: việc bán cho người ngoài cần sự đồng ý của Hội đồng quản trị hoặc của một số cổ đông nhất định.
  • Quyền bán cùng: khi cổ đông lớn bán cổ phần, cổ đông nhỏ được quyền bán kèm theo cùng giá và điều kiện.
  • Quyền kéo theo: khi cổ đông lớn bán toàn bộ công ty, cổ đông nhỏ có nghĩa vụ bán theo để người mua nhận đủ số cổ phần.
  • Cấm chuyển nhượng cho đối tượng cụ thể: ví dụ đối thủ cạnh tranh hoặc người có xung đột lợi ích với công ty.

Thỏa thuận hạn chế có hợp pháp không?

Pháp luật không cấm các thỏa thuận này. Bộ luật Dân sự 2015 tôn trọng tự do thỏa thuận (Điều 3): thỏa thuận có hiệu lực khi các bên tự nguyện, có năng lực và nội dung không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội (Điều 117). Nếu vi phạm điều cấm, thỏa thuận vô hiệu (Điều 123).

Áp vào chuyển nhượng cổ phần, có thể rút ra mấy điểm sau:

  • Hạn chế có điều kiện, có thời hạn (ưu tiên mua, khóa trong vài năm, cần chấp thuận theo thủ tục rõ ràng) thường được coi là hợp lệ vì chỉ điều chỉnh cách thức chuyển nhượng, không xóa bỏ quyền chuyển nhượng.
  • Cấm chuyển nhượng tuyệt đối, không thời hạn dễ bị xem là trái nguyên tắc tự do chuyển nhượng tại khoản 1 Điều 127, nên có rủi ro không được Tòa án hoặc Trọng tài công nhận.
  • Không được thỏa thuận ngược với hạn chế luật định, ví dụ bỏ yêu cầu Đại hội đồng cổ đông chấp thuận trong trường hợp của khoản 3 Điều 120.

Thỏa thuận cổ đông hay Điều lệ: khác nhau ở hiệu lực

Đây là điểm hay bị bỏ qua. Thỏa thuận cổ đông là hợp đồng dân sự nên chỉ ràng buộc các bên đã ký. Khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020 yêu cầu hạn chế chuyển nhượng phải nằm trong Điều lệ và được ghi rõ trên cổ phiếu thì mới có hiệu lực theo luật doanh nghiệp.

Hệ quả thực tế:

  • Nếu hạn chế chỉ có trong thỏa thuận cổ đông, cổ đông vi phạm vẫn có thể bán được cho người ngoài. Bên bị vi phạm chủ yếu chỉ yêu cầu được bồi thường thiệt hại (Điều 360 Bộ luật Dân sự) hoặc phạt vi phạm nếu hợp đồng có thỏa thuận (Điều 418).
  • Nếu hạn chế được ghi vào Điều lệ và cổ phiếu, công ty có căn cứ từ chối ghi nhận người nhận chuyển nhượng vào sổ đăng ký cổ đông khi việc chuyển nhượng vi phạm hạn chế.

Lưu ý khi soạn điều khoản hạn chế chuyển nhượng

  1. Ghi hạn chế vào Điều lệ và in rõ trên cổ phiếu (hoặc giấy chứng nhận sở hữu cổ phần), không chỉ để trong thỏa thuận cổ đông.
  2. Đặt thời hạn và điều kiện cụ thể: bao lâu, cần ai đồng ý, thời hạn trả lời, cách xác định giá khi thực hiện quyền ưu tiên mua.
  3. Quy định rõ hậu quả khi vi phạm: mức phạt, nghĩa vụ bồi thường, quyền mua lại cổ phần.
  4. Kiểm tra sự thống nhất giữa thỏa thuận cổ đông, Điều lệ và các hạn chế luật định để tránh điều khoản mâu thuẫn hoặc vô hiệu.
  5. Với công ty đại chúng, cần đối chiếu thêm quy định của pháp luật chứng khoán.

Kết luận

Thỏa thuận hạn chế chuyển nhượng cổ phần không đương nhiên trái luật. Thỏa thuận có điều kiện, có thời hạn, không trái hạn chế luật định thì hợp lệ giữa các bên ký. Muốn hạn chế ràng buộc cả công ty và người nhận chuyển nhượng, cần ghi vào Điều lệ và cổ phiếu theo khoản 1 Điều 127 Luật Doanh nghiệp 2020. Nếu công ty đang soạn thỏa thuận cổ đông hoặc sửa Điều lệ, hãy để luật sư rà các điều khoản này trước khi ký.

Căn cứ pháp lý

  • Luật Doanh nghiệp 2020, điểm d khoản 1 Điều 111, khoản 3 Điều 116, khoản 3 và khoản 4 Điều 120, khoản 1 Điều 127
  • Bộ luật Dân sự 2015, Điều 3, Điều 117, Điều 123, Điều 360, Điều 418

Bài viết mang tính tham khảo, dựa trên quy định tại thời điểm đăng. Để được tư vấn cho trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ luật sư.