Bỏ qua, tới nội dung chính

Doanh nghiệp & Đầu tư· Cập nhật 16/10/2026· Người viết: Nguyễn Phúc Mạnh

Phạt vi phạm hợp đồng thương mại 8% tính trên khoản nào?

Theo Điều 301 Luật Thương mại, mức phạt hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp tại Điều 266.

Nguyễn Phúc Mạnh
Tham vấn bởiThạc sĩ Luật Nguyễn Phúc MạnhTrưởng Phòng Pháp chế & Hợp đồng
Phạt vi phạm hợp đồng thương mại 8% tính trên khoản nào?

Theo Điều 301 Luật Thương mại, mức phạt hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm, trừ trường hợp tại Điều 266. Vì vậy, với giao dịch chịu cơ chế này, 8% không mặc nhiên được tính trên toàn bộ giá trị hợp đồng. Trước khi tính tiền còn phải có thỏa thuận phạt và xác định hành vi thuộc thỏa thuận đó, theo Điều 300.

Giá trị hợp đồng và giá trị nghĩa vụ bị vi phạm có thể rất khác

Giả định hợp đồng mua hàng trị giá 1 tỷ đồng gồm năm lô độc lập, mỗi lô 200 triệu đồng. Bên bán giao chậm một lô; các lô khác đã thực hiện đúng và không bị ảnh hưởng. Nếu giá trị nghĩa vụ giao chậm được xác định là 200 triệu đồng, mức 8% tương ứng là 16 triệu đồng, không phải 80 triệu đồng. Nếu thỏa thuận chỉ phạt 3% thì phải bắt đầu từ mức đã thỏa thuận, không tự nâng lên 8%.

Tình huống sẽ phức tạp hơn nếu một linh kiện chưa giao khiến cả hệ thống không thể vận hành. Không nên chỉ từ việc “chậm một món” hoặc “không dùng được cả hệ thống” để chọn ngay cơ sở tính phạt. Cần đọc cấu trúc nghĩa vụ, khả năng tách phần việc và mục đích hợp đồng. Hợp đồng phân bổ giá trị từng hạng mục rõ sẽ giúp giảm tranh luận này.

Có nhiều vi phạm thì có được cộng nhiều lần 8%?

Điều 301 điều chỉnh cả tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm. Không nên đặt hàng loạt tên vi phạm cho cùng một nghĩa vụ rồi cộng cơ học thành 16%, 24% hoặc cao hơn giá trị phần nghĩa vụ đó. Với các nghĩa vụ độc lập, cần xác định riêng phần giá trị bị vi phạm và quan hệ giữa các khoản phạt.

Chẳng hạn, một lô hàng vừa giao muộn vừa sai quy cách có thể làm phát sinh hai căn cứ thỏa thuận. Tuy nhiên, điều khoản ghi “mỗi hành vi phạt 8%” chưa tự giải quyết được giới hạn tổng mức phạt. Bên yêu cầu cần trình bày cả hành vi, nghĩa vụ bị ảnh hưởng, giá trị làm cơ sở và cách kiểm soát tổng mức.

Không phải hợp đồng mang tên thương mại nào cũng dùng cùng một trần

Điều 4 Luật Thương mại yêu cầu xem luật chuyên ngành; Điều 418 Bộ luật Dân sự quy định mức phạt do các bên thỏa thuận, trừ khi luật liên quan có quy định khác. Do đó, phải xác định luật điều chỉnh trước khi áp con số 8%. Bài này phân tích cơ chế chung của Luật Thương mại, không thay cho việc xác định mức phạt riêng trong xây dựng, tín dụng hay những giao dịch có quy định đặc thù.

Điều 266 Luật Thương mại là ngoại lệ được Điều 301 dẫn chiếu về trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định. Không thể dùng ngoại lệ này để nâng phạt trong một hợp đồng mua bán hàng hóa thông thường.

Viết điều khoản phạt thế nào cho dễ áp dụng?

Điều khoản nên có hành vi cụ thể, tỷ lệ hoặc công thức, giá trị làm cơ sở, mốc bắt đầu và kết thúc tính phạt. Nếu tính theo ngày, cần có giới hạn tổng mức phù hợp. Phải phân biệt khoản phạt với lãi chậm trả và thiệt hại thực tế, thay vì gọi tất cả là “phí vi phạm”.

Nếu hợp đồng đã ghi mức vượt giới hạn, không nên vội coi toàn bộ hợp đồng vô hiệu hoặc chắc chắn được thu đủ mức ghi trên giấy. Cần đánh giá hiệu lực và khả năng tách điều khoản theo pháp luật áp dụng, trong đó Điều 130 Bộ luật Dân sự có quy định về vô hiệu từng phần. Khi gửi yêu cầu, cách tính bám giới hạn luật định sẽ giúp xác định phần tranh chấp thực chất.

Doanh nghiệp cần trao đổi về điều khoản phạt hoặc cách xác định nghĩa vụ bị vi phạm có thể liên hệ Công ty Luật TNHH Justix tại https://justix.vn/.

Căn cứ pháp lý

  • Luật Thương mại 2005, Bộ luật Dân sự 2015

Bài viết mang tính tham khảo, dựa trên quy định tại thời điểm đăng. Để được tư vấn cho trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ luật sư.