Bỏ qua, tới nội dung chính

Doanh nghiệp & Đầu tư· Cập nhật 22/10/2026· Người viết: Nguyễn Phúc Mạnh

Lệnh cấm nhập khẩu hoặc thay đổi chính sách có làm hợp đồng tự chấm dứt?

Lệnh cấm nhập khẩu hoặc thay đổi chính sách không làm mọi hợp đồng liên quan tự chấm dứt. Cần xác định văn bản tác động đến đúng hàng hóa, đúng giao dịch và trong khoảng thời gian nào; sau đó mới xem căn cứ miễn trách nhiệm, gia hạn hoặc kết thúc hợp đồng.

Nguyễn Phúc Mạnh
Tham vấn bởiThạc sĩ Luật Nguyễn Phúc MạnhTrưởng Phòng Pháp chế & Hợp đồng
Lệnh cấm nhập khẩu hoặc thay đổi chính sách có làm hợp đồng tự chấm dứt?

Lệnh cấm nhập khẩu hoặc thay đổi chính sách không làm mọi hợp đồng liên quan tự chấm dứt. Cần xác định văn bản tác động đến đúng hàng hóa, đúng giao dịch và trong khoảng thời gian nào; sau đó mới xem căn cứ miễn trách nhiệm, gia hạn hoặc kết thúc hợp đồng. Trong Luật Thương mại Việt Nam, thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết lúc giao kết là một căn cứ miễn trách nhiệm riêng.

Phân biệt cấm thực hiện với yêu cầu thực hiện thêm thủ tục

Trong ví dụ giả định, một hợp đồng mua thiết bị được ký trước khi thị trường nhập khẩu áp dụng yêu cầu chứng nhận mới. Bên mua tuyên bố không thể nhập hàng và yêu cầu hoàn toàn bộ tiền. Tuy nhiên, quy định mới có thể chỉ yêu cầu bổ sung kiểm định, có thời gian chuyển tiếp hoặc chỉ áp dụng một nhóm thiết bị.

Nếu còn đường thực hiện hợp pháp, cần xem thời gian và chi phí của phương án đó. Một thủ tục đắt hơn hoặc mất thêm công sức chưa đồng nghĩa với việc bị cấm nhập. Ngược lại, nếu văn bản cấm thực sự áp dụng ngay cho lô hàng, việc tiếp tục vận chuyển có thể làm tăng tổn thất và tạo thêm rủi ro tuân thủ.

Doanh nghiệp nên giữ bản văn bản chính thức, tài liệu xác định mã và đặc tính hàng, mốc ký hợp đồng cùng tiến trình sản xuất. Cần kiểm tra cả thỏa thuận phân bổ rủi ro pháp lý: bên nào cam kết khả năng nhập khẩu, bên nào phải đáp ứng tiêu chuẩn và bên nào có nghĩa vụ cập nhật yêu cầu thị trường.

Miễn trách nhiệm không quyết định thay số phận hợp đồng

Khi luật Việt Nam áp dụng, cần xem điều khoản riêng và các Điều 294 đến 296 Luật Thương mại. Nếu viện dẫn bất khả kháng, phải đối chiếu thêm điều kiện của sự kiện và quan hệ nhân quả; nếu viện dẫn quyết định quản lý, phải chứng minh đúng điều kiện của căn cứ này. Không nên dùng một lập luận chung để bỏ qua sự khác nhau giữa hai trường hợp.

Trong hợp đồng thuộc CISG, Điều 79 chủ yếu điều chỉnh miễn trách nhiệm bồi thường và không loại bỏ các quyền khác theo Công ước. Việc hủy hợp đồng vẫn cần căn cứ tương ứng, chẳng hạn Điều 49 đối với bên mua hoặc Điều 64 đối với bên bán. Tuyên bố hủy phải được thông báo; hậu quả hoàn trả được xem riêng theo Điều 81.

Không nên xử lý tiền và hàng bằng một câu thông báo

Các bên nên xác nhận trước tình trạng hàng đang ở nhà máy, trên đường hay tại cửa khẩu. Từ đó mới chọn phương án tạm dừng, đổi lịch, thay đổi hàng trong phạm vi pháp luật cho phép hoặc kết thúc giao dịch. Đổi thị trường tiêu thụ chỉ nên đặt ra nếu hợp pháp và có thỏa thuận cần thiết; không phải biện pháp mặc định để lách lệnh cấm.

Một văn bản kết thúc nên giải quyết số tiền hoàn trả, hàng đã sản xuất, chi phí hợp lý và thời điểm bàn giao chứng từ. Không thể vừa mặc định hợp đồng đã hết nghĩa vụ giao hàng, vừa bỏ ngỏ căn cứ giữ toàn bộ tiền đã nhận. Cũng không nên coi mọi chi phí nhà máy là khoản bên mua chắc chắn phải gánh.

Justix có thể hỗ trợ đọc đúng phạm vi chính sách, đối chiếu các cam kết và xây dựng phương án thương lượng. Việc đánh giá sớm đặc biệt cần thiết khi một quyết định quản lý ảnh hưởng đồng thời hợp đồng với nhà cung cấp nước ngoài và hợp đồng phân phối tại Việt Nam.

Căn cứ pháp lý

  • Luật Thương mại 2005, Bộ luật Dân sự 2015, Công ước Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG)

Bài viết mang tính tham khảo, dựa trên quy định tại thời điểm đăng. Để được tư vấn cho trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ luật sư.