Bỏ qua, tới nội dung chính

Doanh nghiệp & Đầu tư· Cập nhật 16/10/2026· Người viết: Nguyễn Phúc Mạnh

Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cần điều kiện gì?

Công ty chỉ được đơn phương chấm dứt khi có căn cứ tại Điều 36 Bộ luật Lao động 2019, báo trước đúng thời hạn nếu thuộc trường hợp phải báo và không vi phạm các trường hợp bảo vệ tại Điều 37

Nguyễn Phúc Mạnh
Tham vấn bởiThạc sĩ Luật Nguyễn Phúc MạnhTrưởng Phòng Pháp chế & Hợp đồng
Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động cần điều kiện gì?

Công ty chỉ được đơn phương chấm dứt khi có căn cứ tại Điều 36 Bộ luật Lao động 2019, báo trước đúng thời hạn nếu thuộc trường hợp phải báo và không vi phạm các trường hợp bảo vệ tại Điều 37. Báo trước đủ 30 hoặc 45 ngày không làm một lý do cho nghỉ trái luật trở thành hợp pháp. Trước khi gửi thông báo, doanh nghiệp cần xác định chính xác vì sao hợp đồng được chấm dứt. 

Phân biệt các cách cho người lao động nghỉ việc

Cách chấm dứt

Căn cứ chính

Hồ sơ cần chứng minh

Doanh nghiệp đơn phương

Điều 36

Lý do, chứng cứ, báo trước và điều kiện bảo vệ

Kỷ luật sa thải

Điều 125

Vi phạm, lỗi và thủ tục kỷ luật

Hai bên thỏa thuận

Khoản 3 Điều 34

Sự tự nguyện, ngày chấm dứt, quyền lợi

Cho thôi việc do cơ cấu hoặc kinh tế

Điều 42

Thay đổi thực tế và thủ tục sử dụng lao động

 

Doanh nghiệp chọn cơ chế nào thì phải đáp ứng điều kiện của cơ chế đó. Một nhân viên ký nhận thông báo hoặc bàn giao công việc chưa có nghĩa đã thỏa thuận nghỉ. Nếu công ty muốn giải quyết bằng thỏa thuận, nội dung và sự tự nguyện phải được thể hiện rõ.

Những lý do nào cho phép doanh nghiệp đơn phương?

Khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 quy định bảy nhóm: thường xuyên không hoàn thành công việc theo tiêu chí hợp lệ; điều trị ốm đau, tai nạn đủ thời gian luật định mà khả năng lao động chưa hồi phục; sự kiện khách quan thuộc trường hợp luật quy định dù đã tìm mọi biện pháp khắc phục; không có mặt sau thời hạn trở lại khi hết tạm hoãn; đủ tuổi nghỉ hưu trừ thỏa thuận khác; tự ý bỏ việc từ năm ngày làm việc liên tục không có lý do chính đáng; cung cấp thông tin không trung thực khi giao kết làm ảnh hưởng tuyển dụng.

Từng lý do có cách chứng minh riêng. Không hoàn thành công việc cần quy chế và kết quả đánh giá. Bỏ việc cần dữ liệu về ngày làm việc và lý do vắng. Với thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm hoặc sự kiện thuộc điểm c, công ty phải chứng minh cả tác động và việc đã tìm biện pháp khắc phục mà vẫn buộc giảm chỗ làm. Doanh thu giảm không tự đáp ứng nhóm căn cứ này.

Đối với điều trị dài ngày, điểm b quy định 12 tháng liên tục nếu hợp đồng không xác định thời hạn; sáu tháng liên tục nếu hợp đồng từ 12 đến 36 tháng; quá nửa thời hạn nếu hợp đồng dưới 12 tháng, cùng điều kiện khả năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe bình phục, doanh nghiệp phải xem xét tiếp tục giao kết theo điều luật. 

Báo trước bao nhiêu ngày?

Khoản 2 Điều 36 áp dụng yêu cầu báo trước với các điểm a, b, c, đ, g. Thời hạn thông thường ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng không xác định thời hạn, 30 ngày đối với hợp đồng từ 12 đến 36 tháng, ba ngày làm việc đối với hợp đồng dưới 12 tháng và trường hợp điều trị tại điểm b. Các điểm d, e không phải báo trước theo khoản 3. 

Với một số ngành, nghề, công việc đặc thù, Điều 7 Nghị định 145/2020/NĐ-CP quy định thời hạn riêng, có thể là 120 ngày hoặc một phần tư thời hạn hợp đồng tùy trường hợp. Vì vậy, người phụ trách phải xác định loại công việc trước khi tính ngày. Thông báo chấm dứt bằng văn bản tại Điều 45 cũng cần được phân biệt với thời gian báo trước. 

Có căn cứ nhưng chưa được cho nghỉ trong trường hợp nào?

Điều 37 bảo vệ người đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định, trừ trường hợp tại điểm b khoản 1 Điều 36; người nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng hoặc nghỉ được đồng ý; lao động nữ mang thai, người nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng. Với thành viên ban lãnh đạo tổ chức đại diện người lao động, còn có thủ tục bảo vệ tại Điều 177. 

Ví dụ giả định, công ty đã có kết quả đánh giá nhân viên thường xuyên không hoàn thành công việc, nhưng người đó đang nuôi con tám tháng. Điều 37 vẫn phải được áp dụng. Nếu các bên trao đổi phương án thỏa thuận, việc thỏa thuận phải tự nguyện; công ty không thể coi hồ sơ đánh giá là lý do bỏ qua bảo vệ này.

Chấm dứt trái luật phải bồi thường những khoản nào?

Khoản 1 Điều 41 Bộ luật Lao động 2019 quy định nhận người lao động trở lại, trả lương và đóng BHXH, BHYT, BHTN trong những ngày không được làm việc, cùng khoản ít nhất bằng hai tháng lương theo hợp đồng. Nếu thiếu thời gian báo trước, còn phải trả khoản lương tương ứng.

Khi người lao động không muốn trở lại, hoặc công ty không muốn nhận và người lao động đồng ý, khoản 2, khoản 3 Điều 41 quy định quyền lợi bổ sung. Vì vậy, hai tháng lương không phải toàn bộ nghĩa vụ trong mọi vụ việc. Thời gian mất việc, lựa chọn trở lại và trợ cấp đều ảnh hưởng số tiền phải giải quyết. 

Sau khi chọn căn cứ và hoàn thành báo trước, công ty vẫn phải thanh toán theo Điều 48, giải quyết phép năm chưa nghỉ theo khoản 3 Điều 113 và hoàn tất hồ sơ bảo hiểm. Trợ cấp thôi việc được tính theo Điều 46 và Điều 8 Nghị định 145/2020/NĐ-CP. Tranh chấp đơn phương thuộc nhóm không bắt buộc hòa giải trước khi yêu cầu Tòa án theo điểm a khoản 1 Điều 188.

Doanh nghiệp cần xem xét quyết định chấm dứt hoặc tranh chấp phát sinh có thể liên hệ Công ty Luật TNHH Justix tại https://justix.vn/.

Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật Lao động 2019, Nghị định 145/2020/NĐ-CP

Bài viết mang tính tham khảo, dựa trên quy định tại thời điểm đăng. Để được tư vấn cho trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ luật sư.