Bỏ qua, tới nội dung chính

Doanh nghiệp & Đầu tư· Cập nhật 21/10/2026· Người viết: Nguyễn Phúc Mạnh

Không giao được hàng do bất khả kháng, tiền đặt cọc có phải hoàn trả?

Không giao được hàng do bất khả kháng không đồng nghĩa bên nhận tiền được giữ toàn bộ tiền cọc, cũng không có nghĩa luôn phải đền cọc.

Nguyễn Phúc Mạnh
Tham vấn bởiThạc sĩ Luật Nguyễn Phúc MạnhTrưởng Phòng Pháp chế & Hợp đồng
Không giao được hàng do bất khả kháng, tiền đặt cọc có phải hoàn trả?

Không giao được hàng do bất khả kháng không đồng nghĩa bên nhận tiền được giữ toàn bộ tiền cọc, cũng không có nghĩa luôn phải đền cọc. Cần xác định khoản tiền có thực sự là đặt cọc, hợp đồng còn tiếp tục hay đã kết thúc có căn cứ và các bên đã thỏa thuận gì. Miễn trách nhiệm do vi phạm và hoàn trả lợi ích đã nhận là hai vấn đề cần giải quyết riêng.

Tên gọi khoản tiền chưa nói hết mục đích của nó

Trong ví dụ giả định, khách hàng chuyển một khoản đầu kỳ để doanh nghiệp đặt sản xuất ở nước ngoài. Hợp đồng gọi khoản này là “cọc”, nhưng điều khoản thanh toán chỉ thể hiện việc trừ dần vào giá hàng. Khi hồ sơ nhập khẩu bị vướng, bên mua đòi lại tiền, còn bên bán nói đã chuyển hết cho nhà máy nên không thể hoàn.

Cần đọc nội dung bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng, cách xử lý khi một bên từ chối và chứng từ giao tiền. Điều 328 Bộ luật Dân sự quy định đặt cọc gắn với mục đích bảo đảm; khoản trả trước để thanh toán có thể có bản chất khác. Không nên tự áp dụng chế tài mất cọc chỉ vì chứng từ dùng chữ “cọc”.

Việc tiền đã được dùng đặt hàng cũng không tự quyết định quyền giữ tiền với khách hàng. Quan hệ giữa bên bán và nhà máy cần được kiểm tra riêng. Bên bán có thể phải thương lượng hoàn hoặc chuyển đơn với nhà máy, trong khi vẫn phải giải quyết nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký với bên mua.

Không giao được hàng chưa chắc là từ chối thực hiện hợp đồng

Điều 328 gắn hậu quả mất cọc hoặc trả lại cọc cùng khoản tương đương với trường hợp bên đặt cọc hoặc nhận cọc từ chối giao kết, thực hiện, trừ thỏa thuận khác. Chậm giao vì trở ngại được chứng minh và chủ động từ chối thực hiện là những tình huống cần phân biệt. Phải xem cả căn cứ miễn trách nhiệm và chính điều khoản xử lý cọc.

Nếu các bên thống nhất gia hạn, khoản tiền có thể tiếp tục được giữ để bảo đảm hoặc thanh toán theo thỏa thuận mới. Nếu hợp đồng được kết thúc hợp pháp, cần xác định nghĩa vụ hoàn trả và các khoản được thanh toán, bù trừ có căn cứ. Không thể dùng yêu cầu chi phí chưa được chứng minh để mặc định khấu trừ hết tiền của khách hàng.

Đối với quan hệ chịu Luật Thương mại, hậu quả của hủy bỏ được điều chỉnh tại Điều 314; cần xác định hủy bỏ có căn cứ trước khi áp dụng. Cơ chế từ chối thực hiện do bất khả kháng kéo dài tại Điều 296 lại có điều kiện riêng, không nên gọi chung là “hủy đơn”.

Hợp đồng quốc tế cần kiểm tra thêm phạm vi CISG

Nếu CISG điều chỉnh, khoản 5 Điều 79 không loại bỏ các quyền khác ngoài yêu cầu bồi thường. Khi có hủy hợp đồng hợp lệ, Điều 81 quy định quyền yêu cầu hoàn trả những gì đã cung cấp hoặc thanh toán; Điều 84 đề cập lãi đối với tiền giá hàng phải hoàn. Tuy nhiên, không suy ra rằng CISG tự quy định chế tài phạt cọc theo Điều 328 của Việt Nam.

Trước khi gửi yêu cầu giữ hoặc trả tiền, nên lập bảng đối chiếu khoản đã nhận, nghĩa vụ đến hạn, hàng đã thực hiện và căn cứ kết thúc. Justix hỗ trợ đánh giá bản chất khoản tiền, phản hồi yêu cầu phạt cọc và đàm phán thỏa thuận xử lý tiền, hàng, chi phí theo cùng một phương án có thể thực hiện.

Căn cứ pháp lý

  • Bộ luật Dân sự 2015, Luật Thương mại 2005, Công ước Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế năm 1980 (CISG)

Bài viết mang tính tham khảo, dựa trên quy định tại thời điểm đăng. Để được tư vấn cho trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ luật sư.