Doanh nghiệp & Đầu tư· Người viết: Trần Việt Tùng
Cách chứng minh sự đồng ý khi khách hàng có tranh chấp
Khi khách hàng phủ nhận việc cho phép sử dụng thông tin, doanh nghiệp cần truy xuất được lựa chọn thực tế và nội dung đi kèm. Mẫu nhật ký dưới đây giúp kết nối bằng chứng đồng ý với từng mục đích, phiên bản tài liệu và những lần thay đổi sau đó.

Cách chứng minh sự đồng ý khi khách hàng có tranh chấp
Khi khách hàng phủ nhận việc cho phép sử dụng thông tin, doanh nghiệp cần truy xuất được lựa chọn thực tế và nội dung đi kèm. Mẫu nhật ký dưới đây giúp nối bằng chứng đồng ý với từng mục đích, phiên bản tài liệu và những lần thay đổi sau đó.
Để chứng minh sự đồng ý khi có tranh chấp, doanh nghiệp cần xác định được người đã đồng ý, thời điểm và nội dung được chấp thuận, đồng thời kiểm tra các điều kiện về tự nguyện và từng mục đích. Trách nhiệm lưu và chứng minh sự đồng ý thuộc bên kiểm soát dữ liệu cá nhân, bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân theo khoản 2 Điều 6 Nghị định 356/2025/NĐ-CP. Một cột “đã đồng ý” trong phần mềm thường chưa đủ thông tin để thực hiện việc này. Hồ sơ còn phải cho thấy tại thời điểm sử dụng dữ liệu, lựa chọn đó có còn phù hợp hay đã bị thay đổi, rút lại. Nếu vụ việc được giải quyết tại Tòa án, tài liệu phải tiếp tục đáp ứng yêu cầu về chứng cứ của pháp luật tố tụng.
Doanh nghiệp phải chứng minh điều gì?
Khoản 1–2 Điều 6 Nghị định 356/2025/NĐ-CP đặt yêu cầu kiểm chứng người đồng ý, thời điểm, nội dung và trách nhiệm lưu trữ. Vì vậy, khi khách hàng phản ánh bị gửi quảng cáo ngoài ý muốn, doanh nghiệp phải tìm được bằng chứng cho đúng hoạt động quảng cáo đang bị phản ánh. Phiếu giao hàng hoặc việc khách từng để lại số liên hệ chưa tự trả lời câu hỏi đó.
Điều 9 Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 91/2025/QH15 còn yêu cầu sự tự nguyện, thông tin cần biết, cách thể hiện rõ ràng và sự đồng ý đối với từng mục đích. Bằng chứng về một lần bấm nút phải được đối chiếu với nội dung hiển thị và điều kiện đi tiếp. Nếu ô đã được tích sẵn hoặc khách buộc phải chấp thuận mục đích ngoài nội dung thỏa thuận, việc lưu được lần bấm chưa giải quyết được tính hợp lệ.
Cũng cần phân loại căn cứ ngay từ đầu. Nếu doanh nghiệp cho rằng một hoạt động thuộc Điều 19 về xử lý không cần đồng ý, hồ sơ phải chỉ ra đúng trường hợp và điều kiện áp dụng, cùng cơ chế giám sát theo khoản 2. Không nên tạo thêm một bản ghi “đồng ý” để che việc chưa xác định được căn cứ. Có thể đối chiếu bài xử lý dữ liệu để thực hiện hợp đồng có luôn cần phải xin đồng ý để tách công việc theo thỏa thuận với việc tiếp thị về sau.
Mẫu nhật ký đồng ý có thể dùng để truy xuất hồ sơ
Đây là mẫu quản trị do Justix biên soạn, không phải biểu mẫu bắt buộc do cơ quan nhà nước ban hành. Các mã, thời điểm và tình huống đều giả định, không chứa dữ liệu khách hàng thật. Mỗi sự kiện cần có mã riêng; bảng minh họa một lần đồng ý ban đầu, có liên kết tới lần rút lại sau đó.
Trường nhật ký | Giá trị minh họa | Tài liệu đối chiếu và cách dùng |
Mã sự kiện và người thực hiện | EVT-1010; khách thử nghiệm KH-GD-01; khách tự thao tác | Mã nối được với hồ sơ đúng người trong kho có phân quyền. Nếu nhân viên nhập hộ, ghi riêng người nhập và căn cứ, không ghi thành khách tự bấm. |
Thời điểm lựa chọn và ghi nhận | Chọn lúc 09:30 ngày 10/10/2026, múi giờ +07:00; hệ thống ghi lúc 09:30:02 cùng ngày | Giữ nguồn thời gian và phân biệt lúc khách lựa chọn với lúc nhập, đồng bộ hoặc bổ sung hồ sơ. |
Mục đích và kết quả | M01: nhận email giới thiệu sản phẩm Công ty A, tối đa 2 thư/tháng; kết quả: đồng ý | Giữ nội dung mục đích, dữ liệu và phạm vi đã thông tin. Không đổi M01 thành mục đích khác rồi dùng lại kết quả. |
Phiên bản thông tin đã cung cấp | Thông báo TB-03; biểu mẫu BM-04; bên kiểm soát: Công ty A | Lưu bản nội dung thực tế và giao diện tương ứng. Mã phiên bản phải dẫn tới bản đã dùng, không chỉ tới trang hiện tại. |
Hành động và cách xác định người chọn | Khách đăng nhập tài khoản thử nghiệm, tự chọn M01 rồi xác nhận; ghi nhận sự kiện từ biểu mẫu | Đối chiếu cơ chế xác thực, trạng thái ô trước khi chọn và lời giải thích trên nút. Không dùng thông tin đăng nhập như bằng chứng duy nhất về mục đích. |
Nguồn và nơi lưu bằng chứng | Website thử nghiệm; hồ sơ EV-1010 gồm bản nội dung, sự kiện hệ thống và kết quả tiếp nhận | Nêu nguồn, vị trí lưu, người quản lý, cách truy xuất. Không đặt tệp chứa dữ liệu thật ở đường dẫn công khai. |
Thay đổi và sử dụng tiếp theo | Liên kết EVT-1410: nhận yêu cầu rút M01 lúc 10:10 ngày 14/10/2026; có xác nhận chặn gửi lúc 10:12 | Lưu sự kiện mới và xác nhận từ hệ thống gửi thư. Giữ lịch sử thay vì ghi đè lần đồng ý ban đầu. |
Xuất hồ sơ và kiểm soát lưu giữ | Hồ sơ YC-1710; người được giao xuất lúc 08:45 ngày 18/10/2026; danh mục tệp kèm nguồn | Ghi phạm vi truy vấn, người xuất, thời gian, cách bảo toàn và quyền xem. Thời hạn lưu được xác định riêng theo mục đích, nghĩa vụ áp dụng. |
Nhật ký phải dẫn về nội dung khách hàng đã thấy
Mã phiên bản chỉ có ý nghĩa nếu doanh nghiệp mở lại được tài liệu tương ứng. Khi đổi chính sách trên website, cần giữ bản đã áp dụng ở thời điểm trước, phạm vi biểu mẫu sử dụng bản đó và thời điểm chuyển sang bản mới. Không nên dùng chính sách hôm nay để khẳng định khách đã được đọc cùng nội dung ở tháng trước.
Với dữ liệu điện tử, Điều 8–11 Luật Giao dịch điện tử, được hợp nhất tại Văn bản 154/2026/VBHN-LQ-VPQH phân biệt giá trị pháp lý, điều kiện như văn bản, như bản gốc và giá trị chứng cứ. Khoản 2 Điều 11 yêu cầu xem độ tin cậy của việc tạo, gửi, nhận, lưu, duy trì toàn vẹn và xác định người khởi tạo, gửi, nhận. Điều 13 đặt điều kiện lưu thông điệp dữ liệu để có thể truy cập, tham chiếu và xác định nguồn, thời gian liên quan.
Từ các yêu cầu này, doanh nghiệp nên bảo toàn tệp hoặc dữ liệu nguồn, đồng thời lập bản đọc được để người xử lý vụ việc tra cứu. Việc ghi người xuất, cách lọc và danh mục tệp là biện pháp tổ chức hồ sơ được khuyến nghị. Mã kiểm tra tính toàn vẹn có thể hỗ trợ phát hiện thay đổi sau khi xuất, nhưng không tự chứng minh nội dung ban đầu đúng hoặc khách đã tự nguyện đồng ý.
Không phải hệ thống nào cũng phải thu thêm địa chỉ IP, vị trí hay giấy tờ căn cước. Điều 6 Nghị định 356 không đặt một danh sách trường kỹ thuật cố định cho mọi cơ chế. Cần chọn dữ kiện phù hợp để kiểm chứng, đồng thời tuân thủ phạm vi, mục đích và thời gian lưu theo Điều 3 Luật 91. Thu thêm thông tin chỉ để làm nhật ký “đầy đủ” có thể tạo ra hoạt động xử lý cần được giải thích riêng.
Khi nhận phản ánh, truy xuất theo trình tự nào?
Trước hết, bộ phận tiếp nhận ghi đúng câu hỏi của khách: chưa từng đồng ý, chỉ đồng ý mục đích khác, đã rút lại hay nghi ngờ có người sử dụng tài khoản. Người phụ trách xác định khách và giao dịch bằng cách phù hợp, giới hạn thông tin yêu cầu bổ sung. Đầu ra bước này là một yêu cầu có phạm vi rõ, được chuyển đúng đầu mối; không buộc khách gửi toàn bộ giấy tờ chỉ để kiểm tra một email quảng cáo.
Tiếp đó, người quản lý hệ thống phối hợp với kinh doanh hoặc marketing tìm sự kiện, tài liệu và hoạt động sử dụng thực tế. Nên giữ nguyên hồ sơ nguồn liên quan, kiểm soát việc sửa, xóa trong quá trình làm rõ và lập bản sao phục vụ xem xét. Đây là cách bảo toàn có giới hạn cho vụ việc cụ thể, không phải lý do giữ vô hạn mọi dữ liệu khách hàng. Nếu nhật ký cũ thiếu, phải ghi rõ phần thiếu và nguồn bổ sung, không tạo bản ghi lùi ngày như thể đã được hệ thống ghi nhận từ trước.
Sau khi thu thập, pháp chế hoặc người phụ trách dữ liệu đối chiếu ba thời điểm: lúc lựa chọn, lúc thay đổi và lúc doanh nghiệp sử dụng. Kết quả cần chỉ ra phần đã chứng minh được, phần còn thiếu và hoạt động phải điều chỉnh. Yêu cầu thực hiện quyền phải được xử lý theo Điều 10 Luật 91 và Điều 5 Nghị định 356; việc đang rà soát bằng chứng không tự làm đình chỉ nghĩa vụ đó.
Cuối cùng, người có thẩm quyền duyệt phản hồi và biện pháp khắc phục. Hồ sơ trả lời nên giải thích đúng mục đích, thời điểm, tài liệu liên quan và kết quả xử lý, đồng thời bảo vệ thông tin của người khác. Nếu cần xuất cho cơ quan có thẩm quyền hoặc bên hỗ trợ, phải xác định căn cứ, phạm vi và cách chuyển phù hợp. Không đăng lịch sử trò chuyện hoặc ảnh giấy tờ lên mạng để “chứng minh khách sai”.
Có đồng ý ban đầu nhưng vẫn phát sinh vi phạm
Tình huống giả định: Nhật ký thử nghiệm ghi khách KH-GD-01 đồng ý M01 ngày 10/10/2026, rút lại ngày 14/10 và hệ thống xác nhận đã chặn gửi. Tuy nhiên, marketing xuất danh sách cũ để gửi quảng cáo ngày 16/10. Ngày 17/10, khách phản ánh vẫn nhận thư.
Bản đồng ý ngày 10/10 là tài liệu cần đối chiếu, nhưng không đủ giải thích lần gửi ngày 16/10. Cần kiểm tra đường đi của danh sách, thời điểm nhận yêu cầu và việc áp dụng trạng thái từ chối ở công cụ gửi. Khoản 4 Điều 10 Luật 91 không áp việc rút lại đối với hoạt động trước thời điểm yêu cầu; quy định này không cho phép tiếp tục quảng cáo sau khi đã nhận yêu cầu từ chối. Riêng quảng cáo qua các kênh Nghị định 91/2020/NĐ-CP điều chỉnh, khoản 4 Điều 13 yêu cầu chấm dứt ngay sau khi nhận yêu cầu từ chối.
Trong tình huống này, đầu ra cần có bản đối chiếu các sự kiện, kết quả ngăn gửi tiếp, việc thu hồi hoặc cập nhật danh sách đang dùng và phản hồi cho khách. Người phụ trách hệ thống phải kiểm tra cả danh sách xuất rời; chỉ sửa trạng thái ở phần mềm chính có thể chưa chặn được công cụ khác.
Chuẩn bị thêm gì nếu tài liệu được dùng tại Tòa án?
Trách nhiệm chứng minh sự đồng ý cũng không có nghĩa một tài liệu duy nhất quyết định mọi yêu cầu của vụ kiện. Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự phân định nghĩa vụ chứng minh theo yêu cầu, phản đối và các trường hợp đặc thù, trong đó có người tiêu dùng. Khi chuẩn bị hồ sơ, cần phân biệt câu hỏi “có đồng ý hay không” với những vấn đề khác như phạm vi sử dụng, thiệt hại và trách nhiệm tương ứng.
Điều 94–95 Bộ luật Tố tụng dân sự, được hợp nhất tại Văn bản 21/VBHN-VPQH quy định nguồn và cách xác định chứng cứ. Khoản 2 Điều 95 có yêu cầu về tài liệu trình bày, xác nhận xuất xứ đối với tài liệu nghe được, nhìn được; khoản 3 dẫn tới pháp luật giao dịch điện tử đối với thông điệp dữ liệu. Vì vậy, cần rà soát hình thức giao nộp theo từng loại tài liệu, không coi ảnh chụp hoặc bản in tự động thay cho toàn bộ hồ sơ nguồn.
Điều 96 quy định việc giao nộp tài liệu, chứng cứ; Điều 108 yêu cầu đánh giá từng chứng cứ và mối liên hệ giữa chúng. Doanh nghiệp nên chuẩn bị danh mục có tên tài liệu, nguồn, thời điểm, nội dung cần chứng minh và người quản lý, rồi đối chiếu yêu cầu cụ thể của vụ án. Một mẫu nhật ký tốt giúp tổ chức hồ sơ, nhưng không bảo đảm mọi tài liệu đều được chấp nhận hoặc doanh nghiệp sẽ thắng kiện.
Câu hỏi thường gặp
Chỉ có ảnh chụp màn hình phần mềm thì còn chứng minh được không?
Ảnh có thể giúp xác định nội dung đang hiển thị, nhưng cần xem nguồn, thời điểm và dữ liệu nền. Nếu ảnh không cho biết phiên bản thông báo hoặc ai thực hiện lựa chọn, nên bổ sung tài liệu có thật liên quan và ghi rõ giới hạn. Giá trị chứng cứ được đánh giá theo Điều 11 Luật Giao dịch điện tử và pháp luật tố tụng áp dụng.
Mất nhật ký cũ có được nhập lại theo trí nhớ của nhân viên?
Có thể lập bản ghi nhận lời trình bày hoặc kết quả rà soát ở thời điểm hiện tại, nêu rõ người cung cấp và căn cứ. Không được trình bày tài liệu bổ sung đó như nhật ký tự động đã có từ trước. Nếu vẫn chưa chứng minh được đồng ý hợp lệ, doanh nghiệp phải rà soát căn cứ và giới hạn sử dụng; một lần đồng ý mới không tự hợp pháp hóa hoạt động đã thực hiện.
Phải lưu mọi bằng chứng đồng ý trong một năm hay lâu hơn?
Không có một thời hạn chung trong Điều 6 Nghị định 356 cho mọi loại hồ sơ. Khoản 3 Điều 3 Luật 91 yêu cầu lưu phù hợp mục đích, trừ quy định khác. Riêng thông tin đăng ký nhận, từ chối và xác nhận từ chối quảng cáo thuộc khoản 7 Điều 11 Nghị định 91/2020/NĐ-CP phải được lưu tối thiểu một năm; không suy rộng thành thời hạn cho mọi cuộc gọi hoặc toàn bộ dữ liệu khách hàng.
Justix hỗ trợ rà soát hồ sơ và cơ chế lưu bằng chứng
Doanh nghiệp có thể chuẩn bị mô tả phản ánh, danh mục hệ thống, biểu mẫu, phiên bản thông báo và cách đang ghi nhận lựa chọn. Trong phạm vi dịch vụ bảo vệ dữ liệu khách hàng, website và marketing, Justix hỗ trợ đối chiếu yêu cầu pháp lý, bằng chứng đồng ý và nội dung cần điều chỉnh để doanh nghiệp phối hợp triển khai. Liên hệ 0372 717 888 hoặc legal@justix.vn để trao đổi phạm vi và cách cung cấp tài liệu phù hợp.
Căn cứ pháp lý
- Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân 91/2025/QH15, hiệu lực 01/01/2026: Điều 3–4, 9–11; Điều 19 về căn cứ, điều kiện đồng ý, thay đổi lựa chọn và phạm vi xử lý.
- Nghị định 356/2025/NĐ-CP, hiệu lực 01/01/2026: Điều 5 và khoản 1–3 Điều 6 về thực hiện quyền, phương thức, lưu và chứng minh sự đồng ý.
- Luật Giao dịch điện tử 20/2023/QH15, hiệu lực 01/07/2024, đã sửa đổi, bổ sung: Điều 8–11, 13. Văn bản hợp nhất 154/2026/VBHN-LQ-VPQH ngày 28/09/2026. Các điều được dùng được đối chiếu theo hiệu lực ngày kiểm tra; không áp dụng trước phần sửa đổi có hiệu lực từ 01/03/2027 được thể hiện trong văn bản hợp nhất.
- Bộ luật Tố tụng dân sự 92/2015/QH13, hiệu lực 01/07/2016, đã sửa đổi, bổ sung: Điều 91, 94–96, 108. Văn bản hợp nhất 21/VBHN-VPQH ngày 12/02/2026.
- Nghị định 91/2020/NĐ-CP, hiệu lực 01/10/2020: khoản 7 Điều 11, khoản 4 Điều 13 về lưu thông tin và dừng quảng cáo khi từ chối.
Bài viết mang tính tham khảo, dựa trên quy định tại thời điểm đăng. Để được tư vấn cho trường hợp cụ thể, vui lòng liên hệ luật sư.
Nguồn: Công ty Luật TNHH Justix – https://justix.vn/bai-viet/cach-chung-minh-su-dong-y-khi-khach-hang-co-tranh-chap · Hotline 037 27 17 888
Bình luận
Bình luận được kiểm duyệt trước khi hiển thị. Chỉ câu trả lời có dấu “Justix xác minh” là của Justix — Justix không bao giờ liên hệ qua số điện thoại để lại trong bình luận. Xem cảnh báo mạo danh
Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên chia sẻ ý kiến.
Hỏi luật sư về vấn đề này
Câu hỏi được gửi riêng tới luật sư, không hiển thị công khai.
